Một người thầy

Với tôi mà nói, năm vừa qua, điều đáng quý nhất chính là được làm việc cùng anh Hội, người anh và cũng là người thầy mà tôi có cơ may gặp gỡ.

Đó là người đã luôn dặn tôi rằng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, “to be kind is better than to be right” (nên đối tốt với tha nhân hơn là xét điều phải trái).

Hay một lần nọ, tôi hỏi anh điều khó khăn nhất anh gặp phải trong mười năm quản trị tổ chức là gì, anh đã bảo rằng “làm việc chung với các anh chị em, cái khó nhất là làm sao để mọi người nhìn thấy nửa ly nước đầy thay vì nửa ly nước vơi”.

Và quan trọng hơn hết, anh sống tử tế và khoan dung với mọi người đúng như những gì anh dạy. Nhất là với những người trẻ mới bước vào nghề. Cách sống ấy của anh đã thách thức tôi, một đứa cầu toàn và rạch ròi tới mức khắt khe. Kỳ thực, mấy năm trước, một đồng nghiệp cũ từng bảo tôi rằng khó ai có thể khuất phục được những chuẩn mực lạnh lùng của tôi (mà tôi lại còn hay càu nhàu rằng, nếu không nghiêm khắc với nhau và thúc giục nhau thì bao giờ sự nghiệp mới thành). Song kể từ khi gặp anh, thế giới quan trong tôi đang dần khác đi thấy rõ.

Ba năm trước, tôi từng gặp anh Hội vài lần ở Thái Lan. Hồi đó, mọi người hay kể cho tôi nghe rằng anh là một người đầy “charisma”, nhưng không hiểu sao đến lúc gặp, trong tôi hầu như không có ấn tượng gì. Chỉ thoáng để ý một ông bác cao lớn mặc áo ba lỗ quần đùi và nói cười chộn rộn, xung quanh lúc nào cũng nhiều người, có điều tính tôi lại không mê chỗ náo nhiệt đông vui. Từ 2018, tôi gặp gỡ anh thường xuyên hơn bởi trong cùng tổ chức, song bởi tính khí tôi có phần cao ngạo nên tôi hiếm khi chủ động chuyện trò với những người được coi là “có địa vị xã hội”, như anh chẳng hạn.

Ấy vậy mà ngay từ đầu, anh đã luôn hết lòng nâng đỡ đám “nhà hoạt động trẻ” như tôi, dẫu rằng anh cực kỳ bận rộn trong khi tôi lúc đó mới là thực tập sinh. Đầu tiên là mấy mươi email qua lại với các đối tác ở Canada để tìm một văn phòng nghị sỹ cho tôi học việc. Thời gian sau đó, trong gần hai tháng tôi ở Âu châu, cuối tuần nào anh cũng gọi điện thu xếp cho tôi đi lại và gặp gỡ với nhiều người ở khắp nơi như Bỉ, Đan Mạch, Na Uy để mở rộng quan hệ công việc. Rồi lại loay hoay tìm cách giúp tôi qua Human Rights Watch thực tập. Sau thì thu xếp cho tôi làm ở văn phòng Chris Hayes bên Úc đúng mùa bầu cử năm vừa rồi.

Dần dần, trong tôi hình thành sự hàm ơn đối với anh, song không hẳn vì những việc anh lo cho tôi, mà bởi cách anh đối đãi với mọi người, cũng như những gì anh làm để giúp cho Việt Nam.

Gặp anh ở ngoài đời, khó mà nghĩ rằng anh là sáng lập viên và giám đốc điều hành của một tổ chức phi chính phủ, một luật sư từng giúp đỡ mấy ngàn người tị nạn đi định cư, hay là một MC danh tiếng. Anh không bao giờ cố chứng tỏ về bản thân hay khiến những người xung quanh có cảm giác anh là một ai đó nổi trội hơn, đặc biệt hơn họ. Nhất là những lần đi với mấy anh chị em hoạt động, anh luôn ăn mặc đơn giản, nói chuyện bình dị, và dù mấy đứa kể chuyện đời dông dài tới mấy anh cũng ngồi chịu khó lắng nghe (dẫu anh không phải kiểu người nhẫn nại cho lắm). Thậm chí, trong đời sống, anh xuề xoà, dễ dãi, và bay bổng đến mức đôi khi tôi tưởng như sẽ rất khó làm việc cùng.

Song không vì vậy mà anh không nghiêm túc và quyết liệt trong công việc. Trong những chuyến gây quỹ cho VOICE khắp mười mấy thành phố ở Âu châu và Úc mà tôi đi cùng anh, chứng kiến sức làm việc không ngừng nghỉ, thấy vừa thương vừa quý những hy sinh rất âm thầm mà anh không bao giờ kể lể. Thậm chí có những đêm mùa đông, anh ngủ độ ba tiếng đồng hồ, chỗ ở thì chật hẹp, nhiều hôm vừa bước xuống sân bay đã đi thẳng lên sân khấu. Đã vậy, anh còn luôn nhận vào mình bao nhiêu việc, giúp hết người này rồi lo cho dự án nọ trong phong trào cho đến khi hoàn tất mới thôi (rồi lại cười nói xuề xoà ôm thêm bao việc khác), đến độ tôi nghe còn thấy phiền nhưng anh lại chẳng nề hà.

Tôi thầm nghĩ, người giỏi ở Việt Nam đâu thiếu, mà tôi cũng gặp nhiều rồi. Người có lòng với những cảnh cùng khổ, kỳ thực ít nhưng không hiếm. Song để bền chí như anh, khi bắt đầu các hoạt động giúp người tị nạn từ những năm 90, rồi dần chuyển sang góp sức vào chuyện đấu tranh dân chủ ở Việt Nam cho đến tận lúc này là gần 30 năm, lại là chuyện đáng để nể trọng. Mà chính tôi, mỗi khi trăn trở về ý hướng của bản thân, lại xem câu chuyện của anh như một ví dụ để ngẫm rằng đã có người đi xa được thế, gác một bên chuyện gia đình hay đời sống cá nhân, thì mình cũng có thể làm được vậy.

Có thể xem anh là một người khá thành công trong sự nghiệp, nhưng anh đối đãi với những đứa trẻ mới chập chững vào nghề như tôi lại không đòi hỏi khắt khe. Anh khuyến khích và cho tôi thấy là mình có tiềm năng để đi xa hơn nữa. Năm vừa rồi làm việc cùng, hầu như trong từng cuộc gặp gỡ và trong từng chuyến đi, anh luôn tạo chỗ đứng cho tôi, cũng như luôn khiến tôi có cảm giác mình có chỗ dựa. Tôi còn quý ở chỗ anh hay thách thức các quan điểm của tôi về xã hội. Thay vì đồng tình với những phán xét của tôi, anh cho tôi một góc nhìn khác, thường theo hướng nhân văn hơn, khoan dung hơn, và đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn trong việc đối nhân xử thế. Dĩ nhiên vấn đề còn nằm ở tuổi tác và trải nghiệm, thứ mà chỉ thời gian mới cho ta được, song những lập luận của anh buộc tôi phải suy nghĩ thận trọng hơn về triết lý sống của mình.

Rồi cũng tới lúc anh rời ghế giám đốc điều hành ở VOICE để bước sang một chương mới. Tôi vui cho anh, mà cũng thấy có chút buồn.

Năm vừa qua, tôi tranh thủ xách bút xách cặp theo anh học hỏi mọi lúc mọi nơi cũng vì biết rằng anh sẽ chóng rời đi, mà tôi thì còn quá trẻ. Ở cái tuổi này, thực sự cần lắm một người thầy chỉ dạy. Một người đủ trải đời để có thể cảm thông với đứa học trò vừa bất toàn vừa ngạo mạn như tôi. Một người dày dặn trong nghề để hiểu con đường tôi đi và những việc tôi làm. Một người chia sẻ cùng tôi tinh thần dân tộc, thứ mà thoạt nghe có vẻ viển vông, nhưng một khi đã san sẻ được với nhau rồi thì chính nó lại trở thành mối dây liên kết bền chặt. Dầu thời gian ngắn ngủi, tôi thấy mình may mắn và hãnh diện vì được gặp và học hỏi từ anh. Một người thầy rất nhiệt thành.

Anh Hoi